Chính sách thuế tài chính có hiệu lực từ 01-01-2016

Bắt đầu từ 1-1-2016, nhiều chính sách tài chính quan trọng như điều chỉnh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi; thuế tiêu thụ đặc biệt của nhiều nhóm hàng; lệ phí cấp căn cước công dân sẽ chính thức có hiệu lực.

Thue-2016-maikalogistics

Thuế suất một số nhóm mặt hàng có thay đổi từ 01-01-2016. Ảnh minh họa

Điều chỉnh thuế xuất khẩu, nhập khẩu một loạt nhóm hàng

Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2016 sửa đổi, bổ sung thuế suất của một số nhóm mặt hàng để phù hợp với cam kết WTO của Việt Nam và khung thuế suất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo đó, Bộ Tài chính cắt giảm thuế nhập khẩu của 9 mặt hàng, trong đó có 8 mặt hàng ô tô với mức giảm từ 2% đến 4%.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng điều chỉnh thuế xuất khẩu của một số mặt hàng đá (nhóm 2517) từ 14% và 17% về cùng mức 15%; bột cacbonat canxi có kích thước từ 0,125 mm trở xuống được điều chỉnh tăng thuế từ 5% lên 10%; dăm gỗ từ 0% lên 2%; dải nhôm cuộn từ 0% lên 20%; đồng phế liệu từ 0% lên 22%.

Mặt hàng inmenit hoàn nguyên được chi tiết tại nhóm 28.23 và điều chỉnh mức thuế suất từ 15% xuống 10%. Đồng thời sửa đổi tiêu chí 1 mặt hàng than gỗ rừng trồng theo kiến nghị của doanh nghiệp.

Thuế nhập khẩu ưu đãi cũng được điều chỉnh đối với các mặt hàng chất chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc từ cà phê, chè và các chế phẩm có thành phần cơ bản từ các sản phẩm này được điều chỉnh giảm từ 40% xuống 30%; mặt hàng khô dầu đậu tương được điều chỉnh tăng từ 0% lên 2%; mặt hàng màng BOPP được điều chỉnh từ 5% lên 6%; mặt hàng sợi từ polyeste được điều chỉnh từ 0% lên 3%. Xem dịch vụ khai thuế hải quan

Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia, thuốc lá

Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Nghị định 108/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật này, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt của một số mặt hàng sẽ được tăng lên theo lộ trình.

Cụ thể: Thuế thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá tăng từ 65% lên 70% từ 1-1-2016 và 75% từ 1-1-2019; rượu dưới 20 độ tăng lên 30% từ ngày 1-1-2016 và 35% từ 1-1-2018; rượu từ 20 độ trở lên và bia tăng lên 55% từ 1-1-2016, 60% từ 1-1-2017 và 65% từ 1-1-2018.

Trong Luật này, các mặt hàng như nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng cũng được đưa ra khỏi đối tượng chịu thuế; bổ sung vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng; luật hóa quy định về giá tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp hàng hóa vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vừa chịu thuế bảo vệ môi trường

Những sửa đổi, bổ sung về thuế tiêu thụ đặc biệt như trên nhằm phát huy tốt hơn vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo đánh thuế cao vào những mặt hàng cao cấp hoặc quá trình sản xuất và tiêu dùng có nhiều ngoại ứng tiêu cực cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và điều chỉnh có lộ trình để đảm bảo sự thích ứng của các doanh nghiệp.

Không thu lệ phí cấp Căn cước công dân lần đầu

Luật Căn cước công dân mới được Quốc hội thông qua đã quy định lấy tên gọi của giấy tờ về căn cước công dân là thẻ Căn cước công dân để thay cho tên gọi “Chứng minh nhân dân” như hiện nay. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân để bảo đảm tính ổn định của các thông tin về nhân dạng của công dân đã được quy định trong Luật. Thẻ Căn cước công dân chỉ phải đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

Thay vì được cấp Chứng minh nhân dân như hiện nay, kể từ 1-1-2016, sẽ bắt đầu cấp thẻ Căn cước công dân.

Căn cứ vào Luật này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 170/2015/TT-BTC hướng dẫn việc thu, nộp và quản lý lệ phí thẻ Căn cước công dân.

Theo Thông tư, công dân từ đủ 14 tuổi trở lên được làm thủ tục cấp thẻ căn cước công dân lần đầu và không phải nộp lệ phí.

Ngoài ra, công dân đổi thẻ căn cước công dân khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi; đổi thẻ căn cước công dân khi có sai sót về thông tin trên thẻ do lỗi của cơ quan quản lý cũng không phải nộp lệ phí căn cước công dân.

Các đối tượng được miễn lệ phí gồm: Công dân đã được cấp chứng minh nhân dân 9 số và chứng minh nhân dân 12 số nay chuyển sang cấp thẻ căn cước công dân theo Luật Căn cước công dân; đổi thẻ căn cước công dân khi Nhà nước quy định thay đổi địa giới hành chính; đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân cho công dân là bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sỹ; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con dưới 18 tuổi của thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; công dân thuộc các xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc; công dân thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật; đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân cho công dân dưới 18 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa.

Khi đổi thẻ căn cước, công dân phải nộp lệ phí là 50.000 đồng/thẻ và khi cấp lại là 70.000 đồng/thẻ.

Công dân thường trú tại các xã, thị trấn miền núi; các xã biên giới; các huyện đảo nộp lệ phí thẻ căn cước công dân bằng 50% mức thu nêu trên.

(Nguồn internet)

Chính sách thuế tài chính có hiệu lực từ 01-01-2016
Đánh giá bài viết

Leave a Reply